CÁCH DÙNG, LIỀU DÙNG
Liều dùng:
Lưu ý khi kê đơn
Nên cá thể hóa liều trị liệu SITOMET trên cơ sở phác đồ
hiện tại của bệnh nhân, hiệu quả và khả năng dung nạp của
thuốc và không vượt quá liều khuyến cáo tối đa hàng ngày
là 100 mg sitagliptin và 2000 mg metformin. Hiện có sẵn
các liều sau đây:
50 mg sitagliptin/500 mg metformin hydrochlorid.
50 mg sltagliptin/850 mg metformin hydrochlorid.
50 mg sltagliptin/1000 mg metformin hydrochlorid.
Trị liệu ban đầu
Đối với bệnh nhân đái tháo đường type 2 không kiểm soát
thích đáng tình trạng tăng đường huyết bằng chế độ ăn
kiêng và vận động thể lực, liều khởi đầu SITOMET được
khuyến cáo là 50 mg sitagliptin/500 mg metformin
hydrochlorid, ngày 2 lần. Nếu bệnh nhân không gặp phản ứng
có hại đường tiêu hóa và cần phải tăng liều thì có thể
chỉnh liều đến 50 mg sitagliptin/1000 mg metformin
hydrochlorid ngày 2 lần sau mỗi khoảng thời gian điều trị
từ 1 đến 2 tuần.
Đối với bệnh nhân không kiểm soát tốt đường huyết
bằng đơn trị liệu metformin
Đối với bệnh nhân không kiểm soát tốt đường huyết khi dùng
metformin đơn trị liệu, liều khởi đầu thường dùng của
SITOMET cung cấp sitagliptin liều 50 mg ngày 2 lần (tổng
liều 100 mg/ngày) cùng với liều metformin đang sử dụng.
Đối với bệnh nhân không kiểm soát tốt đường huyết
bằng đơn trị liệu sitagliptin
Đối với bệnh nhân không kiểm soát tốt đường huyết khi dùng
sitagliptin đơn trị liệu, liều khởi đầu thường dùng của
SITOMET là 50 mg sitagliptin/500 mg metformin hydrochlorid
ngày 2 lần. Có thể tăng liều lên đến 50 mg
sitagliptin/1000 mg metformin ngày 2 lần. Không nên chuyển
sang dùng SITOMET ở bệnh nhân đang dùng đơn trị liệu
sitagliptin với liều điều chỉnh vì suy thận (xem phần
Chống chỉ định).
Đối với bệnh nhân chuyển trị liệu từ phác đồ dùng
chung sitagliptin với metformin
Đối với bệnh nhân chuyển từ phác đồ dùng chung sitagliptin
với metformin, có thể khởi đầu SITOMET bằng liều
sitagliptin và metformin đang dùng.
Đối với bệnh nhân không kiểm soát tốt đường huyết
bằng liệu pháp kết hợp 2 thuốc với bất kỳ 2 trong số 3
thuốc trị tăng đường huyết sau đây: sitagliptin,
metformin hoặc sulfonylurea
Liều khởi đầu thường dùng của SITOMET nên cung cấp liều
sitagliptin 50 mg, ngày 2 lần (tổng liều 100 mg/ngày). Nên
xem xét mức độ kiểm soát đường huyết và liều hiện dùng
metformin (nếu có) khi xác định liều khởi đầu của thành
phần metformin. Nên xem xét tăng liều từ từ để làm giảm
các tác dụng có hại đường tiêu hóa thường xảy ra khi dùng
metformin. Có thể cần giảm liều sulfonylurea ở bệnh nhân
hiện dùng hoặc bắt đầu dùng sulfonylurea nhằm làm giảm
nguy cơ hạ đường huyết do sulfonylurea gây ra (xem phần
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Đối với bệnh nhân không kiểm soát tốt đường huyết
bằng liệu pháp kết hợp 2 thuốc với bất kỳ 2 trong số 3
thuốc trị tăng đường huyết sau đây: sitagliptin,
metformin hoặc chất chủ vận PPARy (nhóm
thiazolidinedion)
Liều khởi đầu thường dùng của SITOMET nên cung cấp liều
sitagliptin 50 mg, ngày 2 lần (tổng liều 100 mg/ngày).
Phải xem xét mức độ kiểm soát đường huyết và liều hiện
dùng metformin (nếu có) khi xác định liều khởi đầu của
thành phần metformin. Xem xét tăng liều từ từ để làm giảm
các tác dụng có hại đường tiêu hóa thường xảy ra khi dùng
metformin.
Đối với bệnh nhân không kiểm soát tốt đường huyết
bằng liệu pháp kết hợp 2 thuốc với bất kỳ 2 trong số 3
thuốc trị tăng đường huyết sau đây: sitagliptin,
metformin hoặc insulin
Liều khởi đầu thường dùng của SITOMET nên cung cấp liều
sitagliptin 50 mg, ngày 2 lần (tổng liều 100 mg/ngày).
Phải xem xét mức độ kiểm soát đường huyết và liều hiện
dùng của metformin (nếu có) khi xác định liều khởi đầu của
thành phần metformin. Xem xét tăng liều từ từ để làm giảm
các tác dụng có hại đường tiêu hóa thường xảy ra khi dùng
metformin. Có thể giảm liều insulin ở bệnh nhân đang hoặc
mới khởi đầu điều trị với insulin để giảm nguy cơ hạ đường
huyết (xem phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Chưa có nghiên cứu khảo sát cụ thể tính an toàn và hiệu
lực của SITOMET ở bệnh nhân trước đây dùng các thuốc trị
tăng đường huyết khác và đã chuyển sang dùng SITOMET. Nên
thận trọng và có giám sát phù hợp khi có bất kỳ thay đổi
trong trị liệu đái tháo đường vì có thể xảy ra những thay
đổi trong kiểm soát đường huyết.
Sử dụng thuốc trên các đối tượng đặc biệt:
Trẻ em
Chưa xác lập tính an toàn và hiệu lực của SITOMET ở bệnh
nhân trẻ em dưới 18 tuổi.
Người cao tuổi
SITOMET
Vì sitagliptin và metformin được đào thải chủ yếu qua thận
và vì chức năng thận thường giảm khi cao tuổi, nên dùng
cẩn thận SITOMET khi tuổi càng cao. Nên thận trọng khi
chọn liều và dựa trên sự giám sát chức năng thận cẩn thận
và thường xuyên (xem phần Cảnh váo và thận trọng khi dùng
thuốc).
Sitagliptin phosphat
Trong các nghiên cứu lâm sàng, tính an toàn và hiệu quả
của sitagliptin ở người cao tuổi ( ≥ 65 tuổi) tương tự như
ở bệnh nhân trẻ tuổi hơn (< 65 tuổi).
Metformin hydrochlorid
Những nghiên cứu lâm sàng đối chứng với metformin có số
lượng bệnh nhân cao tuổi không đủ để chứng minh họ có đáp
ứng khác với bệnh nhân trẻ tuổi hơn hay không, mặc dù báo
cáo từ kinh nghiệm thử nghiệm lâm sàng khác không tìm thấy
được những khác biệt về đáp ứng điều trị giữa bệnh nhân
cao tuổi và bệnh nhân trẻ tuổi hơn.
Bệnh nhân suy thận
Không cần điều chỉ liều ở bệnh nhân suy thận nhẹ (eGFR ≥
60 mL/phút/1,73 m2).
Cần đánh giá chức năng thận trước khi khởi đầu điều trị
với SITOMET và sau đó đánh giá định kỳ ít nhất mỗi năm. Ở
các bệnh nhân có nguy cơ tăng tiến triển suy thận và ở
người cao tuổi, nên đánh giá chức năng thận thường xuyên
hơn, ví dụ: mỗi 3 – 6 tháng.
Liều tối đa hàng ngày của metformin nên được chia thành 2
– 3 liều mỗi ngày. Các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm toan
lactic nên được cân nhắc trước khi bắt đầu điều trị với
metformin ở bệnh nhân có eGFR < 60 mL/phút/1,73 m2.
Chống chỉ định SITOMET trên bệnh nhân có eGFR dưới 30
mL/phút/1,73 m2.
Không khuyến cáo khởi đầu điều trị với SITOMET ở bệnh nhân
có eGFR nằm trong khoảng 30 − 45 mL/phút/1,73 m2 do các
bệnh nhân này yêu cầu dùng sitagliptin với mức liều thấp
hơn liều có sẵn trong phối hợp của SITOMET.
Ở bệnh nhân đang sử dụng metformin và có eGFR giảm xuống
dưới 45 mL/phút/1,73 m2, đánh giá nguy cơ − lợi ích khi
tiếp tục điều trị.
Ngừng sử dụng SITOMET nếu bệnh nhân có eGFR giảm xuống
dưới 30 mL/phút/1,73 m2 (xem phần Chống chỉ định, Cảnh báo
và thận trọng khi dùng thuốc).
Ngừng sử dụng metformin khi thực hiện xét nghiệm chẩn đoán
hình ảnh có sử dụng thuốc cản quang chứa iod
Trên những bệnh nhân có eGFR nằm trong khoảng từ 30 − 60
mL/phút/1,73 m2, trên những bệnh nhân có tiền sử bệnh lý
về gan, nghiện rượu hoặc suy tim, hoặc trên những bệnh
nhân sẽ sử dụng thuốc cản quang chứa iod qua đường động
mạch, ngừng metformin trước hoặc tại thời điểm thực hiện
xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh có sử dụng thuốc cản quang
chứa iod. Đánh giá lại chỉ số eGFR sau khi chiếu chụp 48
giờ sử dụng lại metformin nếu chức năng thận ổn định (xem
phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Cách dùng:
SITOMET thường được dùng ngày 2 lần, uống nguyên viên cùng
với bữa ăn, với liều tăng từ từ nhằm giảm các tác dụng có
hại đường tiêu hóa thường xảy ra khi dùng metformin.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
-
Quá mẫn với sitagliptin, metformin hoặc bất kỳ thành
phần nào của thuốc.
-
Đái tháo đường không phụ thuộc insulin và/hoặc đái thái
đường không ổn định.
-
Nhiễm toan chuyển hóa cấp tính hay mạn tính (bao gồm
nhiễm toan ceton do đái tháo đường) kèm hôn mê hoặc
không, tiền sử nhiễm toan ceton kèm hôn mê hoặc không.
-
Bệnh nhân có tiền sử nhiễm toan lactic bất kể có yếu tố
dự đoán trước hay không (xem phần Cảnh báo và thận trọng
khi dùng thuốc).
-
Trong trường hợp bệnh nhân có tình trạng tổn thương thận
nghiêm trọng (eGFR < 30 mL/phút/1,73 m2), bệnh thận
giai đoạn cuối, bệnh nhân đang lọc máu hoặc khi không
biết rõ chức năng thận (xem phần Cảnh báo và thận trọng
khi dùng thuốc).
- Ngộ độc rượu cấp, nghiện rượu.
- Bệnh nhân đang bị rối loạn chức năng gan nghiêm trọng.
Do tình trạng này có liên quan đến một số trường hợp nhiễm
toan lactic, không nên dùng SITOMET cho những bệnh nhân có
bằng chứng lâm sàng hoặc kết quả xét nghiệm chứng minh
bệnh gan.
-
Trong các trường hợp trụy tim mạch và các tình trạng
bệnh liên quan đến hạ oxy máu như suy tim, suy hô hấp
(là những tình trạng liên quan đến sự tăng acid lactic
máu).
-
Các tình trạng stress như nhiễm trùng nặng, chấn thương
hay phẫu thuật và giai đoạn phục hồi sau đó.
-
Bệnh nhân đang bị shock hoặc mất nước nghiêm trọng.
-
Trong suốt thai kỳ và giai đoạn cho con bú (xem phần
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
-
Gần hoặc tại thời điểm dùng thuốc các quang có chứa iod
do có thể gây ra suy giảm cấp tính chức năng thận (xem
phần Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
CẢNH BÁO VÀ THẬN TRỌNG KHI DÙNG THUỐC
SITOMET
Không dùng SITOMET cho bệnh nhân đái tháo đường type 1
hoặc để điều trị nhiễm toan ceton do đái tháo đường.
Viêm tụy: Đã có báo cáo về viêm tụy cấp, bao gồm
viêm tụy xuất huyết hoặc hoại tử gây tử vong và không gây
tử vong (xem phần Tác dụng không mong muốn) ở bệnh nhân
dùng sitagliptin. Nên thông báo cho bệnh nhân biết triệu
chứng đặc trưng của viêm tụy cấp là đau bụng dữ dội và
liên tục. Viêm tụy được ghi nhận phục hồi sau khi ngưng
dùng sitagliptin. Nếu nghi ngờ viêm tụy, nên ngừng dùng
sitagliptin và các thuốc có nghi ngờ khác.
Giám sát chức năng thận: Metformin và sitagliptin
được đào thải chủ yếu qua thận. Nguy cơ tích lũy metformin
và nhiễm toan lactic tăng theo mức độ suy thận. Chống chỉ
định SITOMET ở bệnh nhân suy thận nặng với eGFR < 30
mL/phút/1,73 m2 (xem phần Cách dùng, liều dùng, Chống chỉ
định, Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc).
Trước khi khởi đầu điều trị với SITOMET và sau đó ít nhất
mỗi năm nên đánh giá và xác minh chức năng thận bình
thường. Nên đánh giá chức năng thận thường xuyên hơn ở
bệnh nhân được dự đoán sẽ rối loạn chức năng thận và ngưng
dùng SITOMET nếu có bằng chứng suy thận.
Sitagliptin phosphat monohydrat
Hạ đường huyết: Trong các thử nghiệm lâm sàng với
sitagliptin đơn trị liệu và dùng kết hợp với các thuốc
được biết rõ không gây hạ đường huyết (như metformin hoặc
pioglitazon), tỷ lệ các báo cáo hạ đường huyết khi dùng
sitagliptin cũng tương tự như ở bệnh nhân dùng placebo.
Giống như các thuốc trị tăng đường huyết khác, đã quan sát
thấy hạ đường huyết khi dùng sitagliptin và metformin kết
hợp với insulin hoặc 1 thuốc nhóm sulfonylurea (xem phần
Tác dụng không mong muốn). Do đó, để giảm nguy cơ hạ đường
huyết do sulfonylurea hoặc do insulin, có thể xem xét giảm
liều sulfonylurea hoặc insulin (xem phần Cách dùng, liều
dùng).
Phản ứng quá mẫn: Đã có các báo cáo sau lưu hành
về những phản ứng quá mẫn nghiêm trọng ở bệnh nhân dùng
sitagliptin, một thành phần của SITOMET. Các phản ứng này
bao gồm phản ứng phản vệ, phù mạch và các tình trạng tróc
da kể cả hội chứng Stevens − Johnson. Vì các phản ứng này
được báo cáo tự nguyện từ dân số chưa biết rõ cỡ mẫu, nên
thường không thể ước tính chắc chắn tần suất hoặc xác lập
mối quan hệ nhân quả với việc sử dụng thuốc. Các phản ứng
này bắt đầu xuất hiện trong 3 tháng đầu điều trị với
sitagliptin, với vài báo cáo xảy ra sau liều đầu tiên. Nếu
nghi ngờ có phản ứng quá mẫn, phải ngưng dùng SITOMET,
đánh giá các nguyên nhân tiềm năng khác và dùng trị liệu
đái tháo đường khác thay thế (xem Chống chỉ định và Tác
dụng không mong muốn).
Đau khớp: Đã có các báo cáo sau lưu hành về đau
xương, có thể nghiêm trọng hơn ở bệnh nhân dùng thuốc ức
chế DPP–4. Sau khi bắt đầu điều trị, các triệu chứng có
thể khởi phát nhanh hoặc có thể xảy ra sau đó với các
khoảng thời gian lâu hơn. Nên cân nhắc ngưng dùng thuốc ở
các bệnh nhân đã có tiền sử hoặc đang có đợt bùng phát các
triệu chứng ở xương trong quá trình điều trị với các thuốc
ức chế DPP–4.
Bóng nước pemphigoid: Đã có báo cáo sau lưu hành
về các trường hợp bị bóng nước pemphigoid khi dùng thuốc
ức chế DPP–4. Trong các trường hợp được báo cáo, bệnh nhân
thường hồi phục khi điều trị ức chế hệ miễn dịch toàn thân
hoặc tại chỗ và ngừng thuốc ức chế DPP–4. Khuyến cáo bệnh
nhân báo cáo về sự phát triển của bóng nước hoặc trợt da
trong khi dùng SITOMET. Nếu nghi ngờ xuất hiện bóng nước
pemphigoid, nên ngừng dùng SITOMET và chuyển đến bác sĩ da
liễu để được chẩn đoán và điều trị thích hợp.
Metformin hydrochlorid
Nhiễm toan lactic: Nhiễm toan lactic là biến
chứng chuyển hóa hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, có thể xảy
ra do tích lũy metformin trong lúc điều trị với SITOMET
(sitagliptin phosphat/metformin HCl) có thể gây tử vong
khoảng 50% trường hợp. Nhiễm toan lactic cũng có thể xảy
ra cùng với một số các tình trạng sinh lý bệnh khác, bao
gồm đái tháo đường và bất cứ lúc nào có tình trạng giảm
tưới máu mô và giảm oxy trong máu. Nhiễm toan lactic được
đặc trưng bởi nồng độ lactat tăng lên trong máu (> 5
mmol/L), giảm pH máu, rối loạn điện giải với khoảng trống
anion và tỷ lệ lactat/pyruvat tăng. Khi metformin được xem
là nguyên nhân gây nhiễm toan lactic, thường tìm thấy nồng
độ metformin trong huyết tương > 5 µg/mL.
Tỷ lệ nhiễm toan lactic được báo cáo rất thấp ở bệnh nhân
dùng metformin hydrochlorid (xấp xỉ 0,03 trường hợp/1000
bệnh nhân − năm, với khoảng 0,015 trường hợp tử vong/1000
bệnh nhân − năm). Trong các thử nghiệm lâm sàng với hơn
20.000 bệnh nhân – năm dùng metformin không có báo cáo nào
về nhiễm toan lactic. Các trường hợp được báo cáo xảy ra
chủ yếu ở bệnh nhân đái tháo đường bị suy thận đáng kể,
bao gồm bệnh lý ở thận lẫn giảm tưới máu thận, thường gặp
khi có nhiều vấn đề về sức khỏe/phẫu thuật xảy ra cùng lúc
và dùng đồng thời nhiều loại thuốc. Bệnh nhân suy tim sung
huyết cần điều trị bằng thuốc, đặc biệt là người suy tim
sung huyết không ổn định hoặc cấp tính có nguy cơ giảm
tưới máu và giảm oxy máu, đều tăng nguy cơ nhiễm toan
lactic.
Nguy cơ nhiễm toan lactic tăng theo mức độ suy thận và
tuổi tác bệnh nhân. Do đó có thể giảm đáng kể nguy cơ
nhiễm toan lactic bằng cách giám sát thường xuyên chức
năng thận ở bệnh nhân dùng metformin và dùng liều
metformin tối thiểu có hiệu quả. Đặc biệt, nên giám sát
cẩn thận chức năng thận khi dùng thuốc ở người cao tuổi.
Ngoài ra, nên ngưng dùng metformin ngay khi có bất kỳ tình
trạng liên quan đến giảm oxy máu, mất nước hoặc nhiễm
trùng hệ thống (sepsis). Do suy giảm chức năng gan có thể
hạn chế đáng kể khả năng thải trừ lactat, nên thường tránh
dùng metformin ở bệnh nhân có bằng chứng lâm sàng hoặc xét
nghiệm về bệnh gan. Bệnh nhân nên cẩn thận tránh uống rượu
quá mức khi đang dùng metformin, dù uống trong thời gian
ngắn hoặc kéo dài, vì rượu có khả năng làm tăng tác động
của metformin hydrochlorid lên chuyển hóa lactat. Ngoài
ra, nên ngưng dùng metformin tạm thời trước khi tiêm chất
cản quang đường tĩnh mạch và trước khi được phẫu thuật.
Tình trạng khởi đầu nhiễm toan lactic thường không dễ phát
hiện và chỉ kèm theo những triệu chứng không đặc hiệu như
mệt mỏi, đau cơ, giảm hô hấp, tăng tình trạng buồn ngủ và
đau bụng không đặc hiệu. Có thể kèm theo hạ thân nhiệt, hạ
huyết áp và loạn chậm nhịp tim kháng trị với tình trạng
nhiễm toan rõ rệt hơn. Bệnh nhân và bác sĩ phải biết tầm
quan trọng của các triệu chứng này và nên hướng dẫn bệnh
nhân thông báo cho bác sĩ ngay nếu chúng xảy ra. Nên ngưng
dùng metformin cho đến khi giải quyết khỏi các tình trạng
này. Có thể hữu ích khi đo nồng độ các chất điện giải, thể
ceton trong huyết thanh, đường huyết, và nếu có chỉ định,
đo pH máu, lactat máu, và thậm chí nồng độ metformin trong
máu. Một khi bệnh nhân đã dùng ổn định bất kỳ liều nào của
metformin, thì các triệu chứng ở đường tiêu hóa thường gặp
khi khởi đầu trị liệu có khả năng không liên quan đến
thuốc. Những triệu chứng đường tiêu hóa xảy ra về sau có
thể do nhiễm toan lactic hoặc các bệnh nghiêm trọng khác.
Nồng độ lactat trong huyết tương tĩnh mạch lúc đói cao hơn
mức tối đa cho phép nhưng dưới 5 mmol/L ở bệnh nhân dùng
metformin không nhất thiết biểu thị tình trạng nhiễm toan
lactic sắp xảy ra mà có thể là do những cơ chế khác, như
kiểm soát kém bệnh đái tháo đường hoặc béo phì, vận động
thể lực nhiều, hoặc các vấn đề kỹ thuật khi lấy mẫu máu.
Nên nghĩ đến nhiễm toan lactic ở bất kỳ bệnh nhân đái tháo
đường có tình trạng nhiễm toan chuyển hóa nhưng không có
bằng chứng nhiễm toan ceton (ceton niệu và ceton máu).
Nhiễm toan lactic là tình trạng y khoa khẩn cấp, cần được
điều trị tại bệnh viện, cần ngưng dùng metformin ngay khi
bệnh nhân bị nhiễm toan lactic và điều trị ngay lập tức
bằng các biện pháp nâng đỡ tổng quát. Vì có thể thẩm tách
metformin hydrochlorid (với độ thanh lọc đến 170 mL/phút
trong điều kiện huyết động học tốt), nên khuyến cáo thẩm
phân máu ngay lập tức để điều chỉnh tình trạng nhiễm toan
và để loại bỏ lượng metformin tích lũy. Việc điều trị như
vậy thường làm mất các triệu chứng và hồi phục ngay lập
tức (xem phần Chống chỉ định).
Hạ đường huyết: Hạ đường huyết không xảy ra ở
bệnh nhân dùng metformin đơn độc trong các trường hợp sử
dụng thuốc như thường lệ, nhưng có thể xảy ra nếu thu nạp
không đủ calori khi việc bổ sung calori không bù đắp được
tình trạng hoạt động quá mức, hoặc trong lúc dùng đồng
thời các thuốc hạ đường huyết khác (như các sulfonylurea
và insulin) hoặc dùng rượu (ethanol). Bệnh nhân cao tuổi,
yếu sức hoặc suy dinh dưỡng và người thiểu năng tuyến
thượng thận hoặc tuyến yên hoặc ngộ độc rượu, đặc biệt
nhạy cảm với tác động hạ đường huyết. Có thể khó nhận biết
tình trạng hạ đường huyết ở người cao tuổi và ở người đang
dùng thuốc chẹn thụ thể β − adrenergic.
Sử dụng đồng thời các thuốc có thể ảnh hưởng đền chức năng
thận hoặc sự thải trừ metformin: Các thuốc dùng đồng thời
có khả năng ảnh hưởng đến chức năng thận hoặc làm thay đổi
đáng kể huyết động học hoặc có thể cản trở sự thải trừ
metformin, như là các thuốc cation được đào thải qua sự
bài tiết ở ống thận (xem phần Tương tác thuốc).
Chẩn đoán hình ảnh có tiêm nội mạch chất cản quang chưa
iod (ví dụ chụp đường niệu có tiêm cản quang, chụp đường
mật có tiêm cản quang, chụp động mạch và chụp cắt lớp điện
toán (CT) với chất cản quang tĩnh mạch): Tiêm chất cản
quang chứa iod vào nội mạch ở những bệnh nhân đang dùng
metformin có thể dẫn đến thay đổi chức năng thận cấp tính
và gây ra nhiễm toan lactic. Do đó, ngưng metformin trước
hoặc tại thời điểm thực hiện xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh
có sử dụng thuốc cản quang chứa iod trên những bệnh nhân
có eGFR nằm trong khoảng từ 30 − 60 mL/phút/1,73 m2, những
bệnh nhân có tiền sử bệnh lý về gan, nghiện rượu hoặc suy
tim, hoặc trên những bệnh nhân sẽ sử dụng thuốc cản quang
chứa iod theo đường động mạch. Đánh giá lại chỉ số eGFR
sau khi chiếu chụp 48 giờ, sử dụng lại metformin nếu chức
năng thận ổn định (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Tình trang giảm oxy: Trụy tim mạch (sốc) do bất
kỳ nguyên nhân nào, suy tim sung huyết cấp, nhồi máu cơ
tim cấp và các bệnh lý khác đặc trưng bởi tình trạng giảm
oxy máu thường liên quan đến nhiễm toan lactic và cũng có
thể gây azote trong máu do nguyên nhân trước thận (tăng
nồng độ các chất thải nitơ trong máu). Nên ngưng trị liệu
SITOMET ngay nếu xảy ra các biến cố như vậy.
Phẫu thuật: Nên ngưng dùng SITOMET tạm thời khi
tiến hành bất kỳ phẫu thuật (ngoại trừ các thủ thuật nhỏ
không kèm theo hạn chế thu nạp nước và thức ăn) và chỉ
dùng trở lại khi bệnh nhân có thể ăn, uống qua đường miệng
và chức năng thận được đánh giá bình thường.
Uống rượu: Rượu đã được biết rõ có khả năng làm
tăng tác động của metformin lên sự chuyển hóa lactat. Do
đó, nên cảnh báo bệnh nhân không nên uống rượu nhiều trong
thời gian ngắn (cấp tính) hoặc kéo dài (mạn tính) trong
khi dùng SITOMET.
Tổn thương chức năng gan: Do suy giảm chức năng
gan thường liên quan với một số trường hợp nhiễm toan
lactic, nên thường tránh dùng SITOMET ở bệnh nhân có bằng
chứng lâm sàng hoặc xét nghiệm về bệnh gan.
Nồng độ vitamin B12: Trong các thử nghiệm lâm
sàng có đối chứng dùng metformin 29 tuần, khoảng 7% bệnh
nhân có nồng độ vitamin B12 giảm dưới mức bình thường ban
đầu nhưng không có biểu hiện lâm sàng. Tình trạng giảm
vitamin B12 có thể do cản trở hấp thu B12 từ phức hợp yếu
tố nội tại − B12, tuy nhiên rất hiếm kết hợp với tình
trạng thiếu máu, tình trạng này sẽ phục hồi nhanh khi
ngưng dùng metformin hoặc dùng thuốc bổ sung vitamin B12.
Nên đánh giá các thông số huyết học mỗi năm ở bệnh nhân
dùng SITOMET và kiểm tra, quản lý các thay đổi bất thường
rõ rệt.
Các cá nhân (người thu nạp hoặc hấp thu không đủ vitamin
B12 hoặc calci) có khả năng có nồng độ vitamin B12 dưới
mức bình thường. Ở các bệnh nhân này, có thể hữu ích khi
đo nồng độ vitamin B12 huyết thanh thường quy mỗi 2 − 3
năm.
Thay đổi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân đã kiểm soát
tốt bệnh đái tháo đường type 2 trước đây: Nếu bệnh nhân đái tháo đường type 2 trước đây được kiểm
soát tốt với SITOMET lại có kết quả xét nghiệm bất thường
hoặc có bệnh lý lâm sàng (đặc biệt bệnh không rõ ràng và
khó xác định), nên đánh giá ngay để tìm bằng chứng nhiễm
toan ceton hoặc nhiễm toan lactic. Các đánh giá nên bao
gồm các chất điện giải và thể ceton trong huyết thanh,
glucose máu, và nếu được chỉ định, pH máu, lactat, pyruvat
và nồng độ metformin trong máu. Phải ngưng SITOMET ngay và
bắt đầu dùng các biện pháp chữa trị phù hợp khác nếu xảy
ra tình trạng nhiễm toan do 1 trong 2 dạng nhiễm toan này.
Không kiểm soát được glucose máu: Khi bệnh nhân
đang ổn định với phác đồ trị liệu đái tháo đường nào đó
lại gặp stress như sốt, chấn thương, nhiễm trùng hoặc phẫu
thuật, thì có thể xảy ra mất kiểm soát đường huyết tạm
thời. Vào các thời điểm như thế, có thể cần phải ngưng
dùng SITOMET và tạm thời dùng insulin. Có thể dùng lại
SITOMET sau khi đã qua khỏi đợt cấp tính này.
ĐIỀU KIỆN BẢO QUẢN
Nơi khô, dưới 30°C, tránh ánh sáng.
HẠN DÙNG
36 tháng kể từ ngày sản xuất. Không dùng thuốc quá thời
hạn sử dụng.